Sưu tập dấu triện thời thuộc pháp tại bảo tàng Quảng Trị

Thứ ba - 08/10/2013 09:36
Dấu triện là một trong những cứ liệu phản ánh tổ chức chính quyền thuộc một giai đoạn nào đó được xác lập trong diễn trình lịch sử, và chúng phản ánh về một hiện thực xã hội của thời kỳ đó. Ở đây chúng tôi xin giới thiệu về sưu tập những dấu triện của chính quyền cơ sở dưới thời thuộc Pháp được phát hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Sưu tập gồm 124 dấu triện, tất cả các hiện vật đều được đúc bằng kim loại đồng. Căn cứ vào hình dáng và chữ thể hiện ở mặt của hiện vật thì chúng gồm những loại hình sau:
Sưu tập dấu triện thời thuộc Pháp trưng bày tại Bảo tàng Quảng Trị
Sưu tập dấu triện thời thuộc Pháp trưng bày tại Bảo tàng Quảng Trị

1.Triện Phó tổng (2 hiện vật). Triện hình vuông cạnh 3,1cm, dày 0,9cm, núm cao 1,5cm. Viền ngoài của mặt triện là các dòng chữ viết tắt bằng tiếng Pháp và quốc ngữ ghi  tên địa danh tổng, huyện, tỉnh, như: C. Cam Vũ, H. Cam Lộ, P. Quảng Trị (tổng Cam Vũ, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị); khung bên trong là 6 chữ Hán thể hiện dưới dạng chân thư và chia thành hai hàng dọc đề tên tổng và chức danh, như: Cam Vũ tổng, Phó tổng ký (ký triện Phó tổng của tổng Cam Vũ). Núm triện cao vừa phải, trên núm triện có khắc chữ Thượng bằng Hán văn với mục đích để đóng đúng theo chiều của dấu triện khi sử dụng.

Tổng là đơn vị hành chính trung gian giữa cấp xã với bên trên (phủ, huyện), nhiều xã hợp thành một tổng nên bộ máy hành chính rất đơn giản chỉ gồm một Chánh tổng và một Phó tổng. Phó tổng là người giúp việc cho Chánh tổng trong việc quản lý làng xã. Phó tổng thường được chọn từ Lý trưởng có thâm niên cao nhất.

2. Triện Lý trưởng (31 hiện vật).Triện hình chữ nhật cạnh 2,3cm x 4,1cm, dày 0,5cm, núm cao 2,1cm. Viền ngoài của mặt triện là các chữ viết tắt bằng tiếng Pháp và Quốc ngữ đề tên xã, tổng, huyện và tỉnh, như: An Bình xã, C. Cam Lộ, H. Cam Lộ, P. Quảng Trị (xã An Bình, tổng Cam Lộ, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị); khung bên trong là 6 chữ Hán thể hiện dưới dạng chữ triện và chia thành hai hàng dọc thể hiện xã, phường hoặc thôn và chức danh, như: An Bình xã, Lý Trưởng ký (ký triện của Lý Trưởng xã An Bình). Núm triện cao vừa phải, trên núm triện có khắc chữ An Bình (bằng Hán văn) với mục đích để đóng đúng theo chiều của dấu triện khi sử dụng.

Lý Trưởng là người đứng đầu bộ máy lý dịch cấp xã, chịu trách nhiệm chính trước Nhà nước về việc vận hành công việc ở xã, nhằm thực hiện những đòi hỏi của Nhà nước đối với dân xã. Giúp việc cho Lý Trưởng ngoài Phó Lý còn có đội ngũ chức dịch được phân công theo 5 chức danh (gọi là Ngũ hương: Hương Bộ, Hương Bản, Hương Kiểm, Hương Mục, Hương Dịch), mỗi chức danh thừa hành những nhiệm vụ cụ thể do Hội đồng Kỳ mục và Ủy ban Thường trực phân công và giám sát.

3.Triện Phó lý (3 hiện vật). Triện hình vuông cạnh 3,1cm, dày 0,9cm, núm cao 1,5cm. Viền ngoài của mặt triện là các dòng chữ bằng tiếng Pháp và quốc ngữ đề tên thôn, xã hoặc phường, tổng, huyện, tỉnh, như: TH. Vĩnh An, C. An Lạc, H. Cam Lộ, P. Quảng Trị (thôn Vĩnh An, tổng An Lạc, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị); khung bên trong là 6 chữ Hán thể hiện dưới dạng chân thư và thành hai hàng dọc đề tên xã, phường và chức danh, như: Thượng Nghĩa xã, Phó Lý ký (ký triện Phó Lý của xã Thượng Nghĩa). Núm triện cao vừa phải, trên núm triện có khắc chữ Thượng bằng Hán văn với mực đích để đóng đúng theo chiều của dấu triện khi sử dụng.

Phó lý là một chức dịch trong bộ máy chính quyền làng xã. Làng xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền cơ sở, tổ chức bộ máy làng xã thời bấy giờ gồm Lý trưởng, phó Lý và Ngũ hương (Hương Bộ, Hương Bản, Hương Mục, Hương Kiểm, Hương Dịch). Trong đó, Lý trưởng là người đứng đầu, Phó Lý và Ngũ Hương là những người giúp Lý trưởng quản lý làng xã.

4.Triện Hương Bổn (31 hiện vật). Triện hình vuông cạnh 3,1cm, dày 0,9cm, núm cao 1,5cm. Viền ngoài của mặt triện là các chữ viết tắt bằng tiếng Pháp và Quốc ngữ: thể hiện tên thôn - phường, tổng, huyện và tỉnh, như: TH. Thiết Trường Thượng, C. Mai Lộc, H. Cam Lộ, P. Quảng Trị (Thôn Thiết Trường Thượng, tổng Mai Lộc, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị); khung bên trong là các chữ Hán thể hiện dưới dạng chân thư và chia thành hai hàng ngang ghi tên thôn - phường và chức danh, như: thôn Thiết Trường Thượng, Hương Bổn ký (ký triện của Hương Bổn thôn Thiết Trường Thượng). Núm triện cao vừa phải, trên núm triện có khắc chữ Thượng (bằng Hán văn) với mục đích để đóng đúng theo chiều của dấu triện khi sử dụng.

Hương Bổn (Bản) là một chức dịch trong Ngũ Hương giúp việc cho Lý trưởng, Phó lý do Ủy ban Thường trực và Hội đồng Kỳ mục phân công và giám sát. Việc tuyển chọn Ngũ Hương nói chung do Hội đồng Kỳ mục chọn trong số dân đinh của xã, tuổi từ 25 - 50 và chưa hề có can án. Số này được giới thiệu lên quan huyện hoặc phủ để xét bổ dụng. Riêng Hương Bổn có thêm tiêu chuẩn giàu có. Hương Bổn phụ trách về tài chính, là người chịu trách nhiệm thu chi ngân sách làng xã và trông coi tài sản của xã.

5.Triện Hương Bộ (35 hiện vật). Triện hình elip cạnh 3cm x 4,7cm, dày 0,5cm, núm cao 1,5cm. Viền ngoài của mặt triện là các chữ viết tắt bằng tiếng Pháp và Quốc ngữ thể hiện tên tỉnh, huyện và tổng, như: P. Quảng Trị, H. Cam Lộ, C. Cam Vũ (tỉnh Quảng Trị, huyện Cam Lộ, tổng Cam Vũ). Khung bên trong là các hàng chữ đề tên thôn, xã và chức danh bằng chữ quốc ngữ và hán văn, như: V. Định Xá (làng Định Xá), xã Định Xá, Hương Bộ. Núm triện cao vừa phải, trên núm triện có khắc chữ Thượng (bằng Hán văn) với mục đích để đóng đúng theo chiều của dấu triện khi sử dụng.

Hương Bộ là một chức dịch trong Ngũ Hương (Bộ, Bản, Kiểm, Mục, Dịch) giúp việc cho Lý trưởng và Phó lý do Ủy ban Thường trực, Hội đồng Kỳ mục phân công và giám sát. Việc tuyển chọn Ngũ Hương nói chung do Hội đồng Kỳ mục chọn trong số dân đinh của xã, tuổi từ 25 - 50 và chưa hề có can án. Số này được giới thiệu lên quan huyện hoặc phủ để xét bổ dụng, quan tỉnh chỉ cần báo cáo sau khi bổ dụng và công sứ Pháp là người được báo cáo sau cùng. Hương Bộ chủ yếu nắm giữ sổ bộ của xã, danh sách những người phải đóng thuế thân, thuế ruộng đất...

6.Triện Thường trực ban - Chính ban trưởng (22 hiện vật). Triện hình vuông cạnh 3,1cm, dày 0,9cm, núm cao 1,5cm. Viền ngoài của mặt triện là các chữ viết tắt bằng tiếng Pháp và Quốc ngữ ghi tên phường hoặc xã, tổng, huyện và tỉnh, như: PH. Mai Lộc, C. Mai Lộc, H. Cam Lộ, P. Quảng Trị (Phường Mai Lộc, tổng Mai Lộc, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị); khung bên trong là 9 chữ Hán thể hiện dưới dạng chân thư và chia thành ba hàng dọc thể hiện tên Phường, xã và chức danh, như: Mai Lộc Phường, Thường Trực Ban, Chính Ban Trưởng (ký triện của Trưởng ban Thường trực phường Mai Lộc). Núm triện cao vừa phải, trên núm triện có khắc chữ Thượng (bằng Hán văn) với mục đích để đóng đúng theo chiều của dấu triện khi sử dụng.

Ủy ban Thường trực Hội đông Kỳ mục được thành lập gồm các kỳ mục có cấp bậc cao nhất trong Hội đồng Kỳ mục. Tên, số lượng của Ban Thường trực do quy mô của xã quy định. Mỗi Ủy ban đều có 1 Chủ tịch (thường là Tiên chỉ), 1 Phó chủ tịch và từ 2 - 4 ủy viên cố vấn nếu là xã nhỏ, 4-7 nếu là xã vừa, từ 7-10 nếu là xã lớn. Số lượng ủy viên cố vấn trong ủy ban do quan tỉnh ấn định sau khi được sự đồng ý của Công sứ Pháp. Quyền hạn của Ủy ban Thường trực là hoạch định mọi công việc của làng xã như: lập ngân sách hàng xã, sỏ thuế thân, thuế điền, tổ chức phân chia công điền, công thổ, chỉ đạo việc xây dựng các công trình công ích, xét xử các vụ vi phạm nhỏ về hương ước, kiểm soát hoạt động của các chức dịch Lý - Hương...

Khi xâm lược nước ta, để phục vụ cho mục đích cai trị, trên cơ sở của bộ máy chính quyền triều Nguyễn, thực dân Pháp đã tiến hành củng cố bộ máy tại các địa phương (cấp xã, tổng) để quản lý làng xã. Quyền lực của các chức dịch được chính quyền Nam triều cùng thực dân Pháp khẳng định qua việc cấp bằng và triện. Trong đó, triện của Chánh tổng, Phó tổng, Lý trưởng, Phó lý do quan đầu tỉnh cấp và được Công sứ Pháp xác nhận. Cách thể hiện chữ trên mặt triện cũng đã được thay đổi để phù hợp hoàn cảnh lịch sử của một xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam. Căn cứ vào tên gọi cấp trạch và bộ máy chính quyền được khắc trên dấu, thì đây là những dấu triện được sử dụng tại các Hương, Thôn, Phường, Xã, Tổng của địa bàn huyện Cam Lộ dưới thời thuộc Pháp vào những năm đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945.

Việc phát hiện những loại hình dấu triện phản ánh một giai đoạn lịch sử của xã hội Việt Nam nói chung, Quảng Trị nói riêng là một xã hội thuộc địa nữa Phong kiến. Mặt khác, cho chúng ta biết được hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở ở địa phương thời bấy giờ, cũng như sự biến đổi của các làng xã qua các thời kỳ lịch sử. Ðặc biệt những hiện vật này rất có giá trị trong việc xây dưng sưu tập dấu triện, thẻ bài trước năm 1945 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. 

Tác giả bài viết: Nguyễn Cường

 Tags: dấu triện

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây