Nguyễn Hoàng trong tiến trình lịch sử Nam tiến

Thứ tư - 18/09/2013 10:16
Vào năm 1558, Ðoan Quận công Nguyễn Hoàng lãnh trách nhiệm vào trấn nhiệm vùng đất Thuận Hoá, đánh dấu một móc lịch sử hết sức quan trọng trong quá Nam tiến khai phá vùng đất mới của quốc gia Ðại Việt. Sử cũ ghi rằng, trong vòng hơn 200 trăm năm (1558 -1775) với 9 đời chúa (từ vị chúa đầu tiên là Nguyễn Hoàng đến vị chúa cuối cùng là Nguyễn Phúc Thuần) thủ phủ của các chúa Nguyễn đã trải qua 8 lần dời dựng, thay đổi vị trí: Ái Tử (1558 - 1570), Trà Bát (1570 - 1600), Dinh Cát (1600 - 1626), Phước Yên (1626 - 1636), Kim Long (1636 - 1687), Phú Xuân 1 (1687 - 1712), Bác Vọng (1712 - 1738), Phú Xuân 2 (1738 - 1775).

Cùng với quá trình thiên di ấy, thể chế chính trị được cũng cố và phát triển, nền tảng kinh tế, xã hội của vùng Thuận Quảng, cũng như dinh phủ của nhà chúa ngày càng được xây dựng quy mô, trở thành trung tâm đầu não của cả xứ Ðàng Trong. Và Nguyễn Hoàng là vị chúa đầu tiên đặt nền móng cho việc khai sinh ra triều đại nhà Nguyễn sau này.

Nguyễn Hoàng là con thứ hai của Nguyễn Kim, sinh ngày Bính dần, tháng 8, năm Ất Dậu, dưới thời vua Lê Trang Tông năm thứ 4 (1525). Lớn lên, Nguyễn Hoàng tướng mạo khôi ngô, vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rồng, thông minh tài trí, kẻ thức giả đều biết ấy là bực phi thường. Là một vị tướng tài, luôn làm cho quân nhà Mạc khiếp sợ, đi đến đâu quân địch đều kinh sợ tháo chạy, được dân chúng ngưỡng mộ mến phục.

Sau khi Nguyễn Kim mất, sự phân chia trong nội bộ nhà Lê đã dẫn đến cái chết bất thường của Nguyễn Uông (con trai trưởng của Nguyễn Kim), Nguyễn Hoàng nhận thấy nguy cơ hãm hại của anh rể là Trịnh Kiểm (người đã mưu sát cha và anh của Nguyễn Hoàng). Một mặt là để tránh nguy cơ đó; mặt khác, với ý đồ tạo dựng cơ nghiệp cho chính dòng họ Nguyễn về sau, khi nhận thấy vai trò của mình  ở xứ Bắc Hà gặp nhiều bất lợi, Nguyễn Hoàng đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa. Khi vào Trấn thủ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng mang theo câu di huấn của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (1).

Tháng 10 năm Mậu ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được phong là Thái úy Ðoan Quận Công, giữ chức trấn thủ tổng quản bình dân hai xứ Thuận, Quảng. Nguyễn Hoàng cùng với các công tử Thái bảo Hòa quận công, Thụy Quận công và các tướng Văn Nham, Thạch Xuyền, Tiền Trung, Tường Lộc đem một nghìn quân ra cửa biển nhằm theo hướng hai xứ Thuận Quảng tiến vào. Chiến thuyền tiến thẳng vào cửa Việt Yên (Cửa Việt) đóng quân trên bãi cát nổi thuộc xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong).

Ngay trong những ngày đầu vào trấn nhiệm xứ Thuận Hóa, Ðoan Quận Công đã được dân chúng ngưỡng mộ, mến phục. Các bô lão làng Ái Tử đem dâng 7 vò nước trong. Nguyễn Ư Dĩ nói với Nguyễn Hoàng rằng: "Ấy là điềm trời cho ông nước đó!" (2). Những vò nước của các bô lão làng Ái Tử trong trường hợp này có thể được hiểu theo khía cạnh: Nước có nghĩa là đất nước/ quốc gia. Cũng chính từ ý niệm đó mà về sau chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các vị chúa kế nghiệp đã dày công tạo dựng ngày một lớn mạnh về mặt thể chế chính trị và cương vực mà về sau được gọi là xứ đàng Trong.

Vào thời điểm này, xứ Thuận Hóa được xem là Ô châu ác địa, nhân dân gồm những thành phần rất phức tạp. Trước tình cảnh này, Nguyễn Hoàng đã tiến hành công việc khai hóa dân chúng, buộc họ phải chăm chỉ làm ăn. Ngay từ ngày đầu vào trấn nhiệm xứ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng biết vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, nhẹ xâu thuế. Vì vậy, Nguyễn Hoàng được dân chúng tin yêu gọi là chúa Tiên, sách Ðại Nam thực lục chép "Vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ được xưng là chúa Tiên" (3). Trong thời gian đóng thủ phủ ở Quảng Trị, cả chúa Tiên và chúa Sãi với chính sách cai trị nghiêm minh, khoan hoà việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu, tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệ” (4).

Nguyễn Hoàng là một vị tướng tài kiệt, đã nhiều lần giúp vua Lê đánh bại quân nhà Mạc, dẹp yên quân phản loạn, thổ phỉ... Vào năm 1572, khi đóng dinh ở Ái Tử, Nguyễn Hoàng đã sử dụng mỹ nhân kế để giết tướng nhà Mạc là Lập Bạo, đây được xem như một huyền tích gắn kết với thị nữ Ngô Thị tự Ngọc Lâm - người có sắc đẹp và mưu trí. Dấu tích còn lại về sự tích này là ngôi miếu Trảo Trảo phu nhân.

Sau khi ra đất Bắc giúp vua Lê đánh dẹp nhà Mạc, khi trở về Thuận Hóa (năm 1570), Nguyễn Hoàng đã cho dời dinh sang xã Trà Bát (nay là làng Trà Liên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong).

Vào tháng 5 năm 1593, "Ðoan Quận Công đem tướng sĩ, voi ngựa, binh quyền đến kinh mừng vua Lê. Ông cũng dâng nạp sổ sách binh lương, của cải, vàng bạc, châu ngọc và kho tàng hai trấn Thuận, Quảng. Vua Lê phủ ủy: Ông trấn thủ hai xứ dân nhờ được, công ấy lớn lắm, rồi tấn phong làm Trung quân Ðô Ðốc phủ tả Ðô đốc, Chưởng phủ sự, Thái úy Ðoan Quốc Công" (5). Sau đó trở về Thuận Hóa (năm 1600), Nguyễn Hoàng đã cho dời phủ từ Trà Bát sang Dinh Cát.

Những ngày cuối đời Nguyễn Hoàng đã dặn vị chúa kế nghiệp Nguyễn Phúc Nguyên rằng: “Ðất Thuận Quảng phía Bắc có núi Ngang và sông Gianh hiểm trở, phía Nam có Hải Vân và núi Ðá Bia vững bền... Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời” (6).Nguyễn Phúc Nguyên ở lại Dinh Cát 13 năm, sau đó thì chuyển thủ phủ nhà chúa tiến sâu hơn về phía Nam đến Phước Yên (Thừa Thiên Huế) vào năm 1626, bắt đầu một thời kỳ mới và chính thức ly khai với chúa Trịnh ở Ðàng Ngoài.

Có thể nói từ những ngày đầu vào trấn thủ xứ Thuận Hóa cho đến lúc lâm chung, Nguyễn Hoàng cùng với các tướng sĩ của mình đã tạo nên một diện mạo mới về lịch sử, văn hóa, xã hội cho xứ đàng Trong. Nguyễn Hoàng cùng các cận thần của mình ra sức củng cố lực lượng, lập đồn trại ở những nơi hiểm yếu để phòng giữ, mở mang các trục lộ giao thông, đặt các dinh trạm để tiện cho việc liên lạc và đi lại. Tiến hành tuyển mộ và huấn luyện binh sĩ, thực hiện chính sách khai hoang phục hóa, đưa dân đến lập nghiệp ở các vùng đất mới... Nhờ vậy, diện tích canh tác tăng, lương thục dồi dào, vật phẩm trù phú. Mặt khác, công tác buôn bán với bên ngoài cũng được phát triển, một số tàu buôn của các nước như Nhật Bản, Trung Hoa, Bồ Ðào Nha đã vào Cửa Việt để trao đổi buôn bán với người dân Quảng Trị.

Lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử vùng đất Quảng Trị/ Thuận Hóa nói riêng không thể không nhắc đến vai trò của Nguyễn Hoàng trong việc mở mang bờ cõi của quốc gia Ðại Việt dưới thời phong kiến. Theo chúng tôi, ngoài hệ thống làng xã được thiết lập trước khi Ðoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn nhiệm, thì thời điểm Nguyễn Hoàng chọn vùng đất Ái Tử làm nơi đặt lị sở là một thời kỳ mà hệ thống làng xã được thiết lập mới, các thiết chế văn hóa được định hình một cách rõ nét, và đây cũng móc lịch sử quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Dưới góc độ về mặt lịch sử, chúng tôi nghĩ rằng, Nguyễn Hoàng và các vị chúa kế tục đã đóng góp công sức rất lớn trong việc mở rộng cương vực để sau này có một quốc gia Ðại Việt rộng lớn được thống nhất dưới thời Gia Long.     

(1), (2), (5) Phan Khoang. Việt sử xứ Ðàng Trong (1558 - 1777). Nxb Văn học. 2001. trang 108, 109 và 117.

(3), (6) Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam thực lục, tập 1 (Tiền biên). Nxb Giáo dục. Hà Nội. 1962. trang 28 và 44.

(4) Lê Quý Ðôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học. Hà Nội.1964. trang 41.

Tác giả bài viết: Nguyễn Cường

 Từ khóa: nguyễn hoàng, vị chúa

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá

Xếp hạng: 4.5 - 2 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây