Sông Bến Hải, cầu Hiên Lương - nối đôi bờ thương nhớ

Thứ ba - 17/10/2017 09:30
Ngược dòng lịch sử trở về những năm tháng kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta, theo Hiệp định Giơnevơ ký kết vào ngày 20/7/1954, lấy vĩ tuyến 17, nơi con sông Bến Hải hiền hòa làm ranh giới quân sự tạm thời thành hai miền Nam Bắc.
Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Bến Hải
Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Bến Hải
Cuộc phân ly tạm thời tưởng chỉ kéo dài 2 năm và kết thúc sau khi tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam Bắc (quy định vào tháng 7/1956), nhưng thực tế đã kéo dài tới 21 năm. Câu chuyện về dòng sông, cây cầu giới tuyến được viết nên bởi máu và nước mắt, bởi sự cách biệt giữa Đàng trong - Đàng ngoài và người Nam - kẻ Bắc:
"Cách một con sông mà đó thương đây nhớ
 Chung một nhịp cầu mà duyên nợ cách xa"
Cũng từ đây, dòng sông Bến Hải, cầu Hiền Lương “nối hai miền thương nhớ” trở thành biểu tượng của nỗi đau chia cắt đất nước và làm ly tán nhiều gia đình ở hai miền Việt Nam:
 “Hai bờ Nam Bắc nhìn đau
  Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị
 Tận chân trời mây núi có chia đâu”
                                                (Tế Hanh)
Màu xanh của bầu trời Quảng Trị một thời đã trở thành nỗi niềm tha thiết về một đất nước vẹn toàn và khát vọng thống nhất Bắc - Nam về chung một nhà.
Vậy là Bến Hải - dòng sông ấy, nếu không có những năm tháng hằn lên dấu vết của đạn bom chia cắt thì chỉ như một dãi lụa đào nối liền từ dãy Trường Sơn hùng vĩ đổ ra biển tại Cửa Tùng. Dòng sông lịch sử này có tên gọi đầu tiên là sông Minh Lương, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn hùng vĩ, chảy dọc vĩ tuyến 17 từ Tây sang Đông (ranh giới giữa hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh ngày nay), đổ ra Biển Đông tại Cửa Tùng. Sông có chiều dài khoảng 70km, nơi rộng nhất khoảng 200m. Dưới thời vua Minh Mạng do húy chữ “Minh” nên cả tên làng và tên sông đều đổi thành Hiền Lương. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tên sông đổi thành Bến Hải, do người Pháp đọc chệch từ địa danh “Bến hai”, tức là bến thứ hai từ thượng nguồn về được ghi trên bản đồ. Ngoài ra còn có những tên gọi khác nữa như sông Hồi, sông Tuyến…
Sông Bến Hải, nơi chiếc cầu Hiền Lương bắc qua có chiều dài 178 mét, với 894 tấm ván lát, vậy mà để cây cầu lịch sử đồng nhất một màu sơn, dân tộc Việt Nam phải đi suốt 21 năm ròng và đổi không biết bao xương máu. Có những trận chiến ác liệt với bom đạn và cũng có những trận chiến quyết liệt không một tiếng súng giữa ta và địch bên lề giới tuyến. Đó là "cuộc chiến" bằng loa phóng thanh và "cuộc chiến" đọ cờ. Loa của địch phát vang xa bao nhiêu thì loa ta còn to hơn, vang hơn để át tiếng tuyên truyền tâm lý chiến. Cờ của Chính quyền miền Nam Việt Nam treo cao bao nhiêu, khổ rộng bao nhiêu thì cờ miền Bắc phải cao hơn, lớn hơn để đồng bào hai bờ dù ở rất xa vẫn được ngắm màu cờ đỏ sao vàng. Để lá cờ Tổ quốc tung bay trên bờ Bắc, là kết quả của cuộc đấu tranh căng thẳng, quyết liệt, hiểm nguy và hi sinh. Khi Mỹ - Ngụy xây cột cờ cuối cùng cao 35 mét, chúng ta đã xây cột cờ 38,6 mét và treo lá cờ rộng 96m2. Hình ảnh lá cờ bờ Bắc ngày ấy chính là sự hiện diện của miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa ngay sát cạnh miền Nam đang kiên cường đấu tranh.
image003
                Kỳ đài Hiền Lương (bờ Bắc)
Âm mưu chia cắt đất nước ta của Mỹ - Ngụy còn thể hiện qua việc sơn cầu. Cầu Hiền Lương do Pháp xây dựng lại 5/1952, dài 178 mét, 7 nhịp, trụ bằng bê tông cốt thép, mặt cầu lát gỗ thông, rộng 4 mét. Từ khi sông Bến Hải thành giới tuyến, "cầu chia làm hai phần, mỗi bên dài 89m, sơn hai màu khác nhau. Bờ Bắc gồm 450 tấm ván mặt cầu, bờ Nam 444 tấm" (theo nhà văn Nguyễn Tuân).
Chỉ riêng màu sơn thôi cũng đã tạo ra một cuộc chiến rất căng thẳng giữa hai bên. Cuối năm 1958, do cầu xuống cấp và bị rỉ nên thông qua Đài truyền thanh Vĩnh Linh và Tổ quốc tế 76, phía VNDCCH đề nghị chính quyền Ngô Đình Diệm sơn lại cầu. Các phương án được bờ Bắc đưa ra để lựa chọn: “Phía bờ Bắc chịu trách nhiệm sơn toàn bộ chiếc cầu theo một màu hoặc mỗi bên sơn một nửa cầu phần bên mình nhưng phải đồng nhất một màu”. Chính quyền bờ Nam không trả lời. Trước tình hình đó, chính quyền bờ Bắc buộc phải đơn phương thực hiện việc sơn cầu. Ngày 9/11/1958, việc sơn cầu được thực hiện bởi Đội sơn cầu 337 thuộc Ty Giao thông Vĩnh Linh, gồm có 10 người. Cầu ban đầu được sơn màu nâu đỏ. Việc sơn cầu đối với công nhân Vĩnh Linh là công việc mới mẻ, khá phức tạp và chưa có dụng cụ chuyên dùng nên phải làm bằng thủ công. Cuối tháng 12/1958, chính quyền Ngô Đình Diệm điều lực lượng ra sơn nửa cầu ở phía bờ Nam. Với âm mưu chia cắt đất nước, miền Nam đối lập với miền Bắc nên chúng cho sơn màu xanh với nửa cầu ở bờ Nam, với lý do: màu xanh là màu hòa bình, màu đỏ là màu chiến tranh: “Quốc gia yêu chuộng hòa bình nên sơn màu xanh, còn Việt Cộng thích chiến tranh nên sơn màu đỏ”. Không dừng tại đó, để tỏ rõ lập trường “không tiếp xúc với cộng sản”, cảnh sát bờ Nam yêu cầu mỗi bên chỉ sơn 84m, còn dành lại 5m để làm “đệm”. Để cầu Hiền Lương có một màu xanh thống nhất, sau đó phía VNDCCH đã cho sơn màu xanh nửa cầu ở bờ Bắc. Không bao lâu sau chính quyền Ngô Đình Diệm lại tuyên bố “Quốc gia không thể sống chung với Việt Cộng”, “Chiếc cầu không thể có chung một màu”, do vậy chúng cho sơn nửa cầu ở bờ Nam màu vàng, với lý do màu vàng là màu nền cờ của VNCH. Lúc này đối với VNDCCH không cho thay đổi màu sơn nữa để vạch trần những âm mưu thủ đoạn, thâm độc của chính quyền Ngô Đình Diệm muốn chia cắt lâu dài đất nước ta cho cả thế giới biết rõ. Chính vì vậy, trong một thời gian dài cầu Hiền Lương tồn tại hai màu sắc: màu xanh ở bờ Bắc và màu vàng ở bờ Nam.
Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, quân và dân Quảng Trị đã anh dũng chiến đấu “một tấc không đi, một ly không rời” với quyết tâm “Gươm nào chém được dòng Bến Hải/ Lửa nào thiêu được dải Trường Sơn”, dòng sông Bến Hải đêm đêm vẫn tấp nập những chuyến đò chuyển quân từ "luỹ thép" Vĩnh Linh vào chia lửa cùng miền Nam ruột thịt.  Suốt 21 năm ròng rã thực hiện lời thề "Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao", với thắng lợi của chiến dịch giải phóng Quảng Trị và cuộc chiến đấu kiên cường 81 ngày đêm chống địch phản kích bảo vệ Thành Cổ và thị xã Quảng Trị của quân và dân ta, đến năm 1972, Quảng Trị là tỉnh đầu tiên của miền Nam Việt Nam được giải phóng, góp phần tạo niềm tin, sức mạnh để cả dân tộc viết nên khúc khải hoàn đại thắng mùa Xuân năm 1975, vĩnh viễn xóa bỏ sự chia cắt đau thương, Bắc Nam sum họp một nhà”, non sông nối liền một dải, thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Người.
image005
 
   
                                Cụm tượng đài Khát vọng thống nhất non sông
Về thăm dòng Bến Hải - cầu Hiền Lương, đi dưới bầu trời cao xanh đầy nắng, mới cảm nhận hết những năm tháng đau thương, mất mát mà dân tộc ta phải trải qua để quyết giữ màu xanh của hòa bình và tự do. Và nếu có dịp đặt chân đến Quảng Trị, tin rằng không một ai và không phút giây nào có quyền lãng quên đất nước mình đã có những năm tháng đầy đau thương nhưng rất đỗi oanh liệt và hào hùng đến thế. Trải qua biết bao "biến thiên" của thời gian thì sông Bến Hải - cầu Hiền Lương vẫn là "địa chỉ đỏ" được nhiều du khách thập phương tìm đến trong mỗi dịp hành hương về nguồn./.
Bài: Nhật Linh
Ảnh: Ngô Văn Minh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây